Thế Tổ Miếu – Ngôi miếu quan trọng bậc nhất trong Đại Nội Huế

     Trong Đại Nội Huế, các vua nhà Nguyễn đã cho xây dựng năm khu miếu thờ:
     Triệu Tổ Miếu – Thờ Triệu Tổ Tĩnh hoàng đế Nguyễn Kim và vợ của ông, Thái Tổ Miếu – Thờ chín vị chúa Nguyễn, từ Thái Tổ Gia Dũ hoàng đế Nguyễn Hoàng đến Hiếu Định Vương Nguyễn Phúc Thuần và các bà vợ của họ. Hai miếu thờ này nằm ở phía tả Thái Hòa Điện, trong những khu vực biệt lập có các vòng tường bao kín. Trong đó, ngoài các miếu chính còn có các miếu nhỏ thờ các vị công thần thời các chúa Nguyễn.
     Đối xứng với hai miếu thờ này qua đường thần đạo của Hoàng Thành còn có Hưng Tổ Miếu – Thờ Hưng Tổ Hiếu Khương hoàng đế Nguyễn Phúc Luân (còn có tên là Gọ) và hoàng hậu, bố và mẹ của vua Gia Long, Thế Tổ Miếu – Thờ các vị vua Nguyễn và các hoàng hậu.
     Ngôi miếu thứ năm có tên là Phụng Tiên Từ nằm trong một khuôn viên phía sau Hưng Tổ Miếu, ngay trước cung Diên Thọ – Nơi ở của Hoàng Thái Hậu. Nơi đây thờ bốn vị vua thời Nguyễn sơ: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức dành riêng cho các bà đến phúng viếng vì họ không được đặt chân đến các ngôi miếu thờ kia, vốn chỉ dành riêng cho nam giới…
     Trong các miếu thờ trên, Thế Tổ Miếu là nơi quan trọng bậc nhất.
     Đây là khu miếu thờ lớn nhất, ngoài miếu chính còn có nhiều công trình phụ thuộc có giá trị nghệ thuật và giàu tính lịch sử như:  Cửu đỉnh, Hiển Lâm Các – Nơi suy tôn công lao các vị thần linh, vua và công thần triều Nguyễn. Tả, Hữu Tùng Tự – Nơi thờ các công thần, Canh Biểu Điện – Thờ Khổng Tử nay đã bị triệt hạ, đền thờ Thổ Công.
     Đây cũng là nơi bảo lưu tương đối trọn vẹn nhất dấu tích xưa so với các khu miếu thờ khác trong Đại Nội Huế.
Thế Tổ Miếu
Không ảnh Hưng Tổ Miếu - Thế Tổ Miếu - Hiển Lâm Các nhìn từ phía bắc
Thế Tổ Miếu
Không ảnh khu vực Hưng Tổ Miếu - Thế Tổ Miếu - Hiển Lâm Các nhìn từ phía đông bắc.
Thế Tổ Miếu
Không ảnh khu vực Hưng Tổ Miếu - Thế Tổ Miếu - Hiển Lâm Các nhìn từ phía đông nam.

     Thế Tổ Miếu thường được gọi tắt là Thế Miếu, được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 2 – 1821 theo kiến trúc “Trùng Thiềm Điệp Ốc”. Tiền doanh 11 gian, 2 chái. Chính doanh 9 gian, 2 chái kép.

     Trong miếu thiết án thờ các vua nhà Nguyễn. Mỗi vị vua được thờ ở mỗi gian.
     Ngoài cùng là một án thờ dùng làm nơi thờ vọng và thiết trí tam bảo. Thường được chạm lộng tứ linh, mây, lá cúc, sơn son thếp vàng.
Giữa là kỷ thờ và sập thờ để bát nhang, chân đèn và các đồ tự khí hoặc các cổ vật từng gắn bó với các vị đế hậu lúc sinh thời. Trong cùng là khám thờ.

Gian thờ vua Gia Long.
Gian thờ vua Gia Long.
Các sập thờ trong Thế Miếu.
Các sập thờ trong Thế Miếu.
Cơi thờ trong Thế Miếu
Cơi thờ trong Thế Miếu
Long vị vua Gia Long và hai hoàng hậu thờ trong Thế Tổ Miếu.
Long vị vua Gia Long và hai hoàng hậu thờ trong Thế Tổ Miếu.

     Bên trong khám đặt bài vị của vua và hoàng hậu. Bài vị của nhà vua luôn ở phía tả, bài vị của hoàng hậu ở về phía hữu theo nguyên tắc tả nam hữu nữ. Nếu vua lập 2 hoàng hậu như vua Gia Long và vua Đồng Khánh thì bài vị của vua đặt ở chính giữa khám. Bên trái là của hoàng hậu thứ nhất, bên phải là của hoàng hậu thứ hai.

Long vị vua Minh Mạng và hoàng hậu thờ trong Thế Tổ Miếu.
Long vị vua Minh Mạng và hoàng hậu thờ trong Thế Tổ Miếu.
Long vị vua Hàm Nghi thờ trong Thế Tổ Miếu.
Long vị vua Hàm Nghi thờ trong Thế Tổ Miếu.

      Triều đại nhà Nguyễn trải 143 năm với 13 triều vua nhưng dưới triều Nguyễn chỉ có 7 vị vua được thờ trong Thế Tổ Miếu. Có 6 vị vua không được triều Nguyễn thờ phụng trong miếu này. Đó là các vua:  Dục Đức, Hiệp Hòa, Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân và Bảo Đại.
     Vua Dục Đức và vua Hiệp Hòa làm vua trong bối cảnh đất nước rối ren, yên vị chưa được bao lâu thì bị phế truất, sử sách gọi là “Phế đế” nên không được thờ. Ba vị vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân là những ông vua yêu nước, có tinh thần kháng Pháp nên bị thực dân Pháp bắt đi đày. Họ bị coi là “Xuất đế” nên cũng không được thờ trong Thế Tổ Miếu. Vua Bảo Đại mới mất ở Pháp vào năm 1997, nên cũng không được đưa vào thờ trong Thế Tổ Miếu.
     Sau năm 1954, Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc đã đưa thêm các vị vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân vào thờ nơi đây. Vì Thế Tổ Miếu chỉ có 9 gian, nên người ta đã phải mở rộng một gian bằng cách phá hệ thống đố bản ở chái phía tả để đặt án thờ, khám thờ và kỷ thờ của vua Thành Thái. Hai vị vua Duy Tân và Hàm Nghi được đưa vào thờ ở 2 gian Hữu tứ – Ngoài cùng bên phải và Tả tứ – Ngoài cùng bên trái. Như vậy là sau một thời gian dài không được thờ phụng trong mái ấm dành cho các bậc đế vương triều Nguyễn, ba vị vua yêu nước đã được trở về với mái ấm của dòng họ mình ở trong Thế Tổ Miếu.

Toàn cảnh tiền tích Thế Miếu.
Toàn cảnh tiền tích Thế Miếu.
Toàn cảnh các ban thờ trong Thế Miếu.
Toàn cảnh các ban thờ trong Thế Miếu.
Tiền tích Thế Miếu.
Tiền tích Thế Miếu.
Đèn lục giác treo trong Thế Miếu.
Đèn lục giác treo trong Thế Miếu.

     Trật tự thiết trí các án thờ cũng là một vấn đề rất phức tạp. Theo nguyên tắc của chế độ phong kiến, tại các miếu thờ, trong đó có Thế Tổ Miếu, thì án Chánh trung – Chính giữa thờ vị Vua/Chúa đầu tiên. Càng tiến về hai đầu thì thứ bậc người được thờ càng nhỏ dần và người được thờ ở bên trái luôn có vị trí hoặc thứ bậc lớn hơn người được thờ ở phía phải cùng gian.
     Tại Thế Tổ Miếu, các án thờ vua Gia Long, vua Minh Mạng, vua Thiệu Trị và vua Tự Đức được tuân thủ trật tự trên một cách chặt chẽ, nhưng từ vua Kiến Phước trở đi, trật tự đó đã bị phá vỡ. Đây là hậu quả của những vấn nạn lịch sử do việc các vị “Phế đế” và “Xuất đế” không được thờ phụng nơi này.

Bác chung trưng bày trong Thế Tổ Miếu.
Bác chung trưng bày trong Thế Tổ Miếu.
Biên chung trưng bày trong Thế Tổ Miếu.
Biên chung trưng bày trong Thế Tổ Miếu.
Biên khánh trưng bày trong Thế Tổ Miếu.
Biên khánh trưng bày trong Thế Tổ Miếu.
Quạt thờ trong Thế Miếu.
Quạt thờ trong Thế Miếu.

     Phía trước Thế Tổ Miếu có Cửu đỉnh, là 9 đỉnh đồng được đúc dưới triều Minh Mạng trong hai năm 1835 – 1837. Trên mỗi đỉnh có khắc tên: Cao, Nhân, Chương, Anh, Nghị, Thuần, Tuyên, Dụ, Huyền.
     Triều Nguyễn đã dùng 7 tên đỉnh đầu tiên làm thụy hiệu cho bảy vị vua: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Kiến Phúc, Đồng Khánh, Khải Định và đã bố trí án thờ của từng vị vua theo vị trí của từng chiếc đỉnh có tên được dùng làm thụy hiệu cho vị vua đó. Riêng Huyền đỉnh và Dụ đỉnh thì chưa được chọn làm thụy hiệu của vị vua nào, dù trong Thế Tổ Miếu hiện đã có 10 án thờ ( các vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân không có thụy hiệu)

Hiển Lâm Các và Cửu đỉnh.
Hiển Lâm Các và Cửu đỉnh.
Từ Hiển Lâm Các nhìn về Thế Tổ Miếu.
Từ Hiển Lâm Các nhìn về Thế Tổ Miếu.
Toàn cảnh mặt trước Thế Tổ Miếu.
Toàn cảnh mặt trước Thế Tổ Miếu.
Toàn cảnh mặt trước Thế Tổ Miếu.
Toàn cảnh mặt trước Thế Tổ Miếu.

Những bài viết bạn có thể sẽ quan tâm...

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *